Category Archives: Hỗ trợ khách hàng

QUY ĐỊNH THI CÔNG SƠN GIAO THÔNG NHIỆT DẺO PHẢN QUANG

1- MỤC ĐÍCH:

Quy định phương pháp vận hành thiết bị, quy trình công nghệ thi công sơn giao thông nhiệt dẻo phản quang.

2- PHẠM VI ÁP DỤNG:

Quy định những yêu cầu cho thi công sơn nhiệt dẻo trắng, vàng theo phương pháp gia nhiệt nấu chảy và thi công nóng trên bề mặt đường bằng cách trải hoặc phun nhằm mục đích tạo ra các loại vạch kẻ trên bề mặt đường.

3- TRÁCH NHIỆM:

– Trưởng phòng kỹ thuật có trách nhiệm phổ biến hướng dẫn cho kỹ thuật và công nhân thi công nắm vững quy định này.

– Kỹ thuật và công nhân thi công chấp hành và thực hiện đúng quy định.

4- NỘI DUNG:

4.1. Chuẩn bị trước khi thi công:

4.1.1. Thiết bị:

Bộ máy sơn đường bao gồm:

– Máy thi công sơn.

– Nồi nấu sơn sơ cấp.

– Máy đánh đường.

– Ôtô tải chở nồi nấu sơ cấp và vật tư, nhiên liệu.

– Các thiết bị bảo vệ và đảm bảo an toàn (Biển báo, chóp nón, rào chắn, cờ đỏ, …).

– Lắp đế sơn (10cm, 15cm hoặc 20cm) theo kích cỡ yêu cầu.

– Chuẩn bị dụng cụ tạo hình (bằng tôn).

– Lưới lọc sơn.

– Lắp đặt bình ga, van ga.

Đốt nóng nồi nấu sơn sơ cấp, nồi bảo ôn của máy thi công, đế sơn của máy thi công.

Chú ý:

Kiểm tra thật kỹ các nồi nấu, vệ sinh sạch sẽ, hạn chế mức thấp nhất sơn cũ còn xót lại.

Kiểm tra máy móc, thiết bị (van gas, vòi gas, động cơ,…) thật an toàn.        

4.1.2. Đội ngũ thi công:

Gồm 6 – 10 người:

– Kỹ thuật điều hành chính    : 1

– Kỹ thuật nấu sơn               : 1

– Kỹ thuật lái máy thi công    : 1

– Căng dây định vị               : 3 (nếu cần)

– Vệ sinh mặt đường            : 2

– Bảo vệ sơn xong               : 1 (nếu cần)

– Lái xe                              : 1

4.1.3. Chuẩn bị bề mặt:

Đặt biển báo và đèn tín hiệu hai đầu đoạn đường chuẩn bị thi công.

Định vị tim, lề đường.

Căng dây làm cự ly cho xe sơn đi. Xem kỹ bản vẽ đánh dấu lên mặt đường dấu (+) sơn đúng theo lý trình. Đối với đường thẳng thì đánh các dấu (+) cách  nhau 25 – 30m, đường cong thì các dấu (+) cách nhau từ 10 – 15m, sau đó căng một sợi dây dài khoảng 200m trùng vào các dấu (+) mà mình đã định vị trước, để cho kim dẫn hướng của máy rải sơn đi theo dây.

Nơi thi công, trên bề mặt bê tông hoặc asphalt phải được làm sạch bằng máy đánh đường, chổi quét hoặc bàn chải sắt. Cần loại bỏ các loại tạp chất như bụi bẩn, dầu mỡ và các hợp phần đóng rắn trước khi thi công. Không thi công sơn trên bề mặt có cát, bùn hoặc các vật thể lạ, bề mặt bị suy giảm về độ kết dính, hoặc trên lớp sơn cũ bị nứt, bong tróc.

Nếu nhiệt độ bề mặt đường nhỏ hơn 10oC hoặc ẩm ướt thì cần phải sấy khô, nhiệt độ bề mặt trên 10oC mới thi công.

Đối với bề mặt đường là bêtông, asphalt cũ hoặc đã bị mài bóng cần sử dụng thêm một lớp sơn lót.

4.2. Thi công:

4.2.1. Thi công sơn lót:

Cho sơn ra một chiếc khay dùng con lăn nhúng vào sơn, lăn thật đều xuống mặt đường (lăn rộng hơn độ rộng của vạch sơn một chút) chờ 10 – 15 phút cho sơn khô mới bắt đầu thi công sơn nóng.

4.2.2. Thi công sơn nhiệt dẻo:

Bước 1: Nấu sơn

Để tránh biến màu và phồng rộp do nhiệt độ thi công vượt quá quy định, nên từ từ cho một bao sơn vào nồi nấu, cho máy khuấy hoạt động (vừa khuấy vừa nấu, để tránh quá nhiệt cục bộ) cho đến khi nhiệt độ trong nồi khoảng 1000C thì cho dần các bao sơn khác vào đến đầy nồi thì dừng lại chờ cho sơn đạt nhiệt độ thi công (1700C – 2100C) tùy theo nhiệt độ môi trường khi thi công. Trong khi làm sơn nóng chảy cần kiểm soát nhiệt độ bằng một nhiệt kế với độ chính xác + 50C, để tránh cho sơn bị quá nhiệt độ cho phép. Khi đã nóng chảy, sơn gốc hydrocacbon chỉ sử dụng được trong vòng 6 giờ, sơn gốc alkyd sẽ chỉ sử dụng được trong vòng 4 giờ. Vì vậy trong khoảng thời gian đó không được đốt nóng vượt quá nhiệt độ quy định của nhà sản xuất. Sau thời gian đó sơn đã đun nóng phải được loại bỏ.

Tuỳ theo mặt đường, nếu buổi sáng nhiệt độ mặt đường từ 300C – 400C thì nấu sơn từ 1800C – 2100C, buổi trưa nhiệt độ mặt đường vào mùa hè từ 600C – 700C thì nấu sơn từ 1700C – 1900C.

Giảm lửa chuẩn bị rót sang xe thi công.

Bước 2: Trải sơn

Nhiệt độ trong nồi nấu phải là từ 1800C – 2100C thì rót sơn vào xe thi công. Sơn rót xuống xe nhiệt độ còn lại 1700C – 1900C. Xe sơn vẫn phải đốt nóng để duy trì nhiệt độ ổn định. Sau đó, cho sơn chảy xuống đế sơn và rải xuống đường ở nhiệt độ 1700C – 1800C đảm bảo cho sơn bám chặt trên bề mặt asphalt.

Bề mặt vạch sơn trên mặt đường không được phồng rộp, bong tróc, vón cục hay bị các khuyết tật khác.

4.2.3. Tạo độ phản quang bề mặt:

Khi có yêu cầu thi công một lớp bi trên bề mặt vạch trải, loại bi sử dụng phải đạt yêu cầu của thiết kế từng công trình.

Với Công trình có thiết kế sử dụng tiêu chuẩn BS của Anh thì Bi phản quang bề mặt phải đáp ứng yêu cầu B của tiêu chuẩn BS 6088. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 850 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn BS 6088, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Với Công trình có thiết kế sử dụng tiêu chuẩn AASHTO của Mỹ thì Bi phản quang bề mặt phải đáp ứng Loại II của tiêu chuẩn AASHTO M 247-81. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 600 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn AASHTO M 247-81, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Bi phản quang sẽ được rắc bằng máy với tốc độ thích hợp hoặc rơi tự do (tuỳ theo thiết kế của xe thi công) với lượng 350 + 50g/m ngay sau khi sơn được trải trên bề mặt đường và bám chặt trên bề mặt của vạch.

4.2.4. Biện pháp kiểm tra bằng thủ công:

– Độ dày của sơn được kiểm tra bằng thước cặp sau khi bóc một miếng sơn đã thi công trên mặt đường.

– Độ bám dính được kiểm tra bằng cách lấy búa đập mạnh trên bề mặt sơn:

+ Nếu bong nhiều miếng từ to từ 2 – 3cm chứng tỏ độ kết dính của sơn và asphalt không tốt.

+ Nếu bong ít từng miếng nhỏ không đáng kể chứng tỏ độ kết dính của sơn và asphalt rất tốt.

4.3. Năng suất thi công:

Trong điều kiện thời tiết tốt, không mưa, một đội sơn hoạt động trong vòng 1 ca = 8h liên tục, đạt được số lượng như sau:

– Sơn vạch liền bề rộng 15 – 20 cm          : sơn được 700 – 800m2/ca/tổ.

– Sơn vạch đứt bề rộng 10 – 15 cm           : sơn được 200 – 250m2/ca/tổ.

1- MỤC ĐÍCH:

Quy định phương pháp vận hành thiết bị, quy trình công nghệ thi công sơn giao thông nhiệt dẻo phản quang.

2- PHẠM VI ÁP DỤNG:

Quy định những yêu cầu cho thi công sơn nhiệt dẻo trắng, vàng theo phương pháp gia nhiệt nấu chảy và thi công nóng trên bề mặt đường bằng cách trải hoặc phun nhằm mục đích tạo ra các loại vạch kẻ trên bề mặt đường.

3- TRÁCH NHIỆM:

– Trưởng phòng kỹ thuật có trách nhiệm phổ biến hướng dẫn cho kỹ thuật và công nhân thi công nắm vững quy định này.

– Kỹ thuật và công nhân thi công chấp hành và thực hiện đúng quy định.

4- NỘI DUNG:

4.1. Chuẩn bị trước khi thi công:

4.1.1. Thiết bị:

Bộ máy sơn đường bao gồm:

– Máy thi công sơn.

– Nồi nấu sơn sơ cấp.

– Máy đánh đường.

– Ôtô tải chở nồi nấu sơ cấp và vật tư, nhiên liệu.

– Các thiết bị bảo vệ và đảm bảo an toàn (Biển báo, chóp nón, rào chắn, cờ đỏ, …).

– Lắp đế sơn (10cm, 15cm hoặc 20cm) theo kích cỡ yêu cầu.

– Chuẩn bị dụng cụ tạo hình (bằng tôn).

– Lưới lọc sơn.

– Lắp đặt bình ga, van ga.

Đốt nóng nồi nấu sơn sơ cấp, nồi bảo ôn của máy thi công, đế sơn của máy thi công.

Chú ý:

Kiểm tra thật kỹ các nồi nấu, vệ sinh sạch sẽ, hạn chế mức thấp nhất sơn cũ còn xót lại.

Kiểm tra máy móc, thiết bị (van gas, vòi gas, động cơ,…) thật an toàn.        

4.1.2. Đội ngũ thi công:

Gồm 6 – 10 người:

– Kỹ thuật điều hành chính    : 1

– Kỹ thuật nấu sơn               : 1

– Kỹ thuật lái máy thi công    : 1

– Căng dây định vị               : 3 (nếu cần)

– Vệ sinh mặt đường            : 2

– Bảo vệ sơn xong               : 1 (nếu cần)

– Lái xe                              : 1

4.1.3. Chuẩn bị bề mặt:

Đặt biển báo và đèn tín hiệu hai đầu đoạn đường chuẩn bị thi công.

Định vị tim, lề đường.

Căng dây làm cự ly cho xe sơn đi. Xem kỹ bản vẽ đánh dấu lên mặt đường dấu (+) sơn đúng theo lý trình. Đối với đường thẳng thì đánh các dấu (+) cách  nhau 25 – 30m, đường cong thì các dấu (+) cách nhau từ 10 – 15m, sau đó căng một sợi dây dài khoảng 200m trùng vào các dấu (+) mà mình đã định vị trước, để cho kim dẫn hướng của máy rải sơn đi theo dây.

Nơi thi công, trên bề mặt bê tông hoặc asphalt phải được làm sạch bằng máy đánh đường, chổi quét hoặc bàn chải sắt. Cần loại bỏ các loại tạp chất như bụi bẩn, dầu mỡ và các hợp phần đóng rắn trước khi thi công. Không thi công sơn trên bề mặt có cát, bùn hoặc các vật thể lạ, bề mặt bị suy giảm về độ kết dính, hoặc trên lớp sơn cũ bị nứt, bong tróc.

Nếu nhiệt độ bề mặt đường nhỏ hơn 10oC hoặc ẩm ướt thì cần phải sấy khô, nhiệt độ bề mặt trên 10oC mới thi công.

Đối với bề mặt đường là bêtông, asphalt cũ hoặc đã bị mài bóng cần sử dụng thêm một lớp sơn lót.

4.2. Thi công:

4.2.1. Thi công sơn lót:

Cho sơn ra một chiếc khay dùng con lăn nhúng vào sơn, lăn thật đều xuống mặt đường (lăn rộng hơn độ rộng của vạch sơn một chút) chờ 10 – 15 phút cho sơn khô mới bắt đầu thi công sơn nóng.

4.2.2. Thi công sơn nhiệt dẻo:

Bước 1: Nấu sơn

Để tránh biến màu và phồng rộp do nhiệt độ thi công vượt quá quy định, nên từ từ cho một bao sơn vào nồi nấu, cho máy khuấy hoạt động (vừa khuấy vừa nấu, để tránh quá nhiệt cục bộ) cho đến khi nhiệt độ trong nồi khoảng 1000C thì cho dần các bao sơn khác vào đến đầy nồi thì dừng lại chờ cho sơn đạt nhiệt độ thi công (1700C – 2100C) tùy theo nhiệt độ môi trường khi thi công. Trong khi làm sơn nóng chảy cần kiểm soát nhiệt độ bằng một nhiệt kế với độ chính xác + 50C, để tránh cho sơn bị quá nhiệt độ cho phép. Khi đã nóng chảy, sơn gốc hydrocacbon chỉ sử dụng được trong vòng 6 giờ, sơn gốc alkyd sẽ chỉ sử dụng được trong vòng 4 giờ. Vì vậy trong khoảng thời gian đó không được đốt nóng vượt quá nhiệt độ quy định của nhà sản xuất. Sau thời gian đó sơn đã đun nóng phải được loại bỏ.

Tuỳ theo mặt đường, nếu buổi sáng nhiệt độ mặt đường từ 300C – 400C thì nấu sơn từ 1800C – 2100C, buổi trưa nhiệt độ mặt đường vào mùa hè từ 600C – 700C thì nấu sơn từ 1700C – 1900C.

Giảm lửa chuẩn bị rót sang xe thi công.

Bước 2: Trải sơn

Nhiệt độ trong nồi nấu phải là từ 1800C – 2100C thì rót sơn vào xe thi công. Sơn rót xuống xe nhiệt độ còn lại 1700C – 1900C. Xe sơn vẫn phải đốt nóng để duy trì nhiệt độ ổn định. Sau đó, cho sơn chảy xuống đế sơn và rải xuống đường ở nhiệt độ 1700C – 1800C đảm bảo cho sơn bám chặt trên bề mặt asphalt.

Bề mặt vạch sơn trên mặt đường không được phồng rộp, bong tróc, vón cục hay bị các khuyết tật khác.

4.2.3. Tạo độ phản quang bề mặt:

Khi có yêu cầu thi công một lớp bi trên bề mặt vạch trải, loại bi sử dụng phải đạt yêu cầu của thiết kế từng công trình.

Với Công trình có thiết kế sử dụng tiêu chuẩn BS của Anh thì Bi phản quang bề mặt phải đáp ứng yêu cầu B của tiêu chuẩn BS 6088. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 850 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn BS 6088, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Với Công trình có thiết kế sử dụng tiêu chuẩn AASHTO của Mỹ thì Bi phản quang bề mặt phải đáp ứng Loại II của tiêu chuẩn AASHTO M 247-81. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 600 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn AASHTO M 247-81, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Bi phản quang sẽ được rắc bằng máy với tốc độ thích hợp hoặc rơi tự do (tuỳ theo thiết kế của xe thi công) với lượng 350 + 50g/m ngay sau khi sơn được trải trên bề mặt đường và bám chặt trên bề mặt của vạch.

4.2.4. Biện pháp kiểm tra bằng thủ công:

– Độ dày của sơn được kiểm tra bằng thước cặp sau khi bóc một miếng sơn đã thi công trên mặt đường.

– Độ bám dính được kiểm tra bằng cách lấy búa đập mạnh trên bề mặt sơn:

+ Nếu bong nhiều miếng từ to từ 2 – 3cm chứng tỏ độ kết dính của sơn và asphalt không tốt.

+ Nếu bong ít từng miếng nhỏ không đáng kể chứng tỏ độ kết dính của sơn và asphalt rất tốt.

4.3. Năng suất thi công:

Trong điều kiện thời tiết tốt, không mưa, một đội sơn hoạt động trong vòng 1 ca = 8h liên tục, đạt được số lượng như sau:

– Sơn vạch liền bề rộng 15 – 20 cm          : sơn được 700 – 800m2/ca/tổ.

– Sơn vạch đứt bề rộng 10 – 15 cm           : sơn được 200 – 250m2/ca/tổ.

1- MỤC ĐÍCH:

Quy định phương pháp vận hành thiết bị, quy trình công nghệ thi công sơn giao thông nhiệt dẻo phản quang.

2- PHẠM VI ÁP DỤNG:

Quy định những yêu cầu cho thi công sơn nhiệt dẻo trắng, vàng theo phương pháp gia nhiệt nấu chảy và thi công nóng trên bề mặt đường bằng cách trải hoặc phun nhằm mục đích tạo ra các loại vạch kẻ trên bề mặt đường.

3- TRÁCH NHIỆM:

– Trưởng phòng kỹ thuật có trách nhiệm phổ biến hướng dẫn cho kỹ thuật và công nhân thi công nắm vững quy định này.

– Kỹ thuật và công nhân thi công chấp hành và thực hiện đúng quy định.

4- NỘI DUNG:

4.1. Chuẩn bị trước khi thi công:

4.1.1. Thiết bị:

Bộ máy sơn đường bao gồm:

– Máy thi công sơn.

– Nồi nấu sơn sơ cấp.

– Máy đánh đường.

– Ôtô tải chở nồi nấu sơ cấp và vật tư, nhiên liệu.

– Các thiết bị bảo vệ và đảm bảo an toàn (Biển báo, chóp nón, rào chắn, cờ đỏ, …).

– Lắp đế sơn (10cm, 15cm hoặc 20cm) theo kích cỡ yêu cầu.

– Chuẩn bị dụng cụ tạo hình (bằng tôn).

– Lưới lọc sơn.

– Lắp đặt bình ga, van ga.

Đốt nóng nồi nấu sơn sơ cấp, nồi bảo ôn của máy thi công, đế sơn của máy thi công.

Chú ý:

Kiểm tra thật kỹ các nồi nấu, vệ sinh sạch sẽ, hạn chế mức thấp nhất sơn cũ còn xót lại.

Kiểm tra máy móc, thiết bị (van gas, vòi gas, động cơ,…) thật an toàn.        

4.1.2. Đội ngũ thi công:

Gồm 6 – 10 người:

– Kỹ thuật điều hành chính    : 1

– Kỹ thuật nấu sơn               : 1

– Kỹ thuật lái máy thi công    : 1

– Căng dây định vị               : 3 (nếu cần)

– Vệ sinh mặt đường            : 2

– Bảo vệ sơn xong               : 1 (nếu cần)

– Lái xe                              : 1

4.1.3. Chuẩn bị bề mặt:

Đặt biển báo và đèn tín hiệu hai đầu đoạn đường chuẩn bị thi công.

Định vị tim, lề đường.

Căng dây làm cự ly cho xe sơn đi. Xem kỹ bản vẽ đánh dấu lên mặt đường dấu (+) sơn đúng theo lý trình. Đối với đường thẳng thì đánh các dấu (+) cách  nhau 25 – 30m, đường cong thì các dấu (+) cách nhau từ 10 – 15m, sau đó căng một sợi dây dài khoảng 200m trùng vào các dấu (+) mà mình đã định vị trước, để cho kim dẫn hướng của máy rải sơn đi theo dây.

Nơi thi công, trên bề mặt bê tông hoặc asphalt phải được làm sạch bằng máy đánh đường, chổi quét hoặc bàn chải sắt. Cần loại bỏ các loại tạp chất như bụi bẩn, dầu mỡ và các hợp phần đóng rắn trước khi thi công. Không thi công sơn trên bề mặt có cát, bùn hoặc các vật thể lạ, bề mặt bị suy giảm về độ kết dính, hoặc trên lớp sơn cũ bị nứt, bong tróc.

Nếu nhiệt độ bề mặt đường nhỏ hơn 10oC hoặc ẩm ướt thì cần phải sấy khô, nhiệt độ bề mặt trên 10oC mới thi công.

Đối với bề mặt đường là bêtông, asphalt cũ hoặc đã bị mài bóng cần sử dụng thêm một lớp sơn lót.

4.2. Thi công:

4.2.1. Thi công sơn lót:

Cho sơn ra một chiếc khay dùng con lăn nhúng vào sơn, lăn thật đều xuống mặt đường (lăn rộng hơn độ rộng của vạch sơn một chút) chờ 10 – 15 phút cho sơn khô mới bắt đầu thi công sơn nóng.

4.2.2. Thi công sơn nhiệt dẻo:

Bước 1: Nấu sơn

Để tránh biến màu và phồng rộp do nhiệt độ thi công vượt quá quy định, nên từ từ cho một bao sơn vào nồi nấu, cho máy khuấy hoạt động (vừa khuấy vừa nấu, để tránh quá nhiệt cục bộ) cho đến khi nhiệt độ trong nồi khoảng 1000C thì cho dần các bao sơn khác vào đến đầy nồi thì dừng lại chờ cho sơn đạt nhiệt độ thi công (1700C – 2100C) tùy theo nhiệt độ môi trường khi thi công. Trong khi làm sơn nóng chảy cần kiểm soát nhiệt độ bằng một nhiệt kế với độ chính xác + 50C, để tránh cho sơn bị quá nhiệt độ cho phép. Khi đã nóng chảy, sơn gốc hydrocacbon chỉ sử dụng được trong vòng 6 giờ, sơn gốc alkyd sẽ chỉ sử dụng được trong vòng 4 giờ. Vì vậy trong khoảng thời gian đó không được đốt nóng vượt quá nhiệt độ quy định của nhà sản xuất. Sau thời gian đó sơn đã đun nóng phải được loại bỏ.

Tuỳ theo mặt đường, nếu buổi sáng nhiệt độ mặt đường từ 300C – 400C thì nấu sơn từ 1800C – 2100C, buổi trưa nhiệt độ mặt đường vào mùa hè từ 600C – 700C thì nấu sơn từ 1700C – 1900C.

Giảm lửa chuẩn bị rót sang xe thi công.

Bước 2: Trải sơn

Nhiệt độ trong nồi nấu phải là từ 1800C – 2100C thì rót sơn vào xe thi công. Sơn rót xuống xe nhiệt độ còn lại 1700C – 1900C. Xe sơn vẫn phải đốt nóng để duy trì nhiệt độ ổn định. Sau đó, cho sơn chảy xuống đế sơn và rải xuống đường ở nhiệt độ 1700C – 1800C đảm bảo cho sơn bám chặt trên bề mặt asphalt.

Bề mặt vạch sơn trên mặt đường không được phồng rộp, bong tróc, vón cục hay bị các khuyết tật khác.

4.2.3. Tạo độ phản quang bề mặt:

Khi có yêu cầu thi công một lớp bi trên bề mặt vạch trải, loại bi sử dụng phải đạt yêu cầu của thiết kế từng công trình.

Với Công trình có thiết kế sử dụng tiêu chuẩn BS của Anh thì Bi phản quang bề mặt phải đáp ứng yêu cầu B của tiêu chuẩn BS 6088. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 850 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn BS 6088, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Với Công trình có thiết kế sử dụng tiêu chuẩn AASHTO của Mỹ thì Bi phản quang bề mặt phải đáp ứng Loại II của tiêu chuẩn AASHTO M 247-81. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 600 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn AASHTO M 247-81, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Bi phản quang sẽ được rắc bằng máy với tốc độ thích hợp hoặc rơi tự do (tuỳ theo thiết kế của xe thi công) với lượng 350 + 50g/m ngay sau khi sơn được trải trên bề mặt đường và bám chặt trên bề mặt của vạch.

4.2.4. Biện pháp kiểm tra bằng thủ công:

– Độ dày của sơn được kiểm tra bằng thước cặp sau khi bóc một miếng sơn đã thi công trên mặt đường.

– Độ bám dính được kiểm tra bằng cách lấy búa đập mạnh trên bề mặt sơn:

+ Nếu bong nhiều miếng từ to từ 2 – 3cm chứng tỏ độ kết dính của sơn và asphalt không tốt.

+ Nếu bong ít từng miếng nhỏ không đáng kể chứng tỏ độ kết dính của sơn và asphalt rất tốt.

4.3. Năng suất thi công:

Trong điều kiện thời tiết tốt, không mưa, một đội sơn hoạt động trong vòng 1 ca = 8h liên tục, đạt được số lượng như sau:

– Sơn vạch liền bề rộng 15 – 20 cm          : sơn được 700 – 800m2/ca/tổ.

– Sơn vạch đứt bề rộng 10 – 15 cm           : sơn được 200 – 250m2/ca/tổ.

Hướng dẫn sử dụng thiết bị thi công sơn nhiệt dẻo phản quang

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THIẾT BỊ THI CÔNG SƠN NHIỆT DẺO PHẢN QUANG
 
LƯU Ý CHUNG TRƯỚC KHI THI CÔNG SƠN
* Mặt đường phải khô ráo, không bị ẩm do ảnh hưởng bởi sương mù hay mưa.
* Nhiệt độ thời tiết đảm bảo để thi công. Mùa đông t0 > 100C.
* Mặt đường phải sạch sẽ. Loại bỏ hoàn toàn mọi vết bẩn, dầu mỡ, … tại vị trí điểm sơn. Quét sạch trước khi sơn.

* Một hệ thống sơn đường bao gồm :  

+ Nồi nấu sơn đơn : 01 cái

  • Phần gia nhiệt chế tạo bằng Inox, gia nhiệt nhanh
  • Hệ thống khuấy thủy lực. Động cơ dầu Diesel.

+ Máy đẩy vạch sơn: 01 chiếc

  • Dạng đẩy tay không động cơ.
  • Phần gia nhiệt chế tạo bằng Inox.
  • Shoe 10cm: 01 cái; shoe 15cm: 01 cái; shoe 20cm: 01 cái
  • Độ dày vạch trải có thể thay đổi được.

+ Máy đẩy vạch sơn 40cm: 01 chiếc

  • Dạng đẩy tay không động cơ.
  • Shoe trải trực tiếp rộng 40cm

Độ dầy vạch trải có thể thay đổi tuỳ theo cân chỉnh của người vận hành.

I – Nồi nấu sơn:

1.1- Kiểm tra trước khi vận hành:

– Mức dầu thủy lực điền đầy vạch mức.
– Đổ đầy nước làm mát vào bộ phận làm mát. (Kiểm tra hằng ngày)
– Đóng kín các van ga, cửa xả Sơn.

1.2- Thao tác vận hành:

– Mở van bình ga.
– Châm lửa nồi nấu-mở van ga nồi nấu.
– Cho 1 hoặc 2 bao Sơn DPI vào trong nồi nấu. Khi thấy Sơn DPI bắt đầu chảy , khởi động động cơ và cho hệ thống khuấy thủy lực làm việc.
– Đề máy khởi động động cơ.
Đề máy dầu sử dụng ác-quy: Đưa chìa khóa về vị trí Sạc giữ 5-10 giây sau đó Đề nổ --> khi máy nổ để chìa khóa ở vị trí Nạp để nạp điện cho ác quy.
Đề máy dầu sử dụng tay quay:
– Kéo ga cao lên vào vị trí khởi động.
– Lắp tay quay vào vị trí để quay.
– Kéo le, kết hợp với quay tay quay. Đến khi đạt tốc độ nhả le --> Máy nổ.
– Xả e dầu khi máy khó đề.
– Cho hệ thống thủy lực quay. (Khoảng 5 – 10 phút đảo chiều quay 1 lần).
– Tiếp tục cho bao Sơn DPI thứ 3, 4 vào nồi nấu. Khi Sơn DPI chảy đồng nhất. Nhiệt độ đồng hồ hiển thị từ 1800C – 2000C thì có thể cho Sơn xuống Máy thi công để bắt đầu thi công. Tùy theo nhiệt độ thời tiết điều chỉnh nhiệt độ nấu sơn cho phù hợp theo nguyên tắc nhiệt độ môi trường thấp phải tăng nhiệt độ nấu sơn và ngược lại.
– Khi Sơn đã chảy nhuyễn giảm lửa nồi nấu ở mức duy trì nhiệt độ. Thường xuyên quan sát đồng hộ nhiệt để điều chỉnh lửa hợp lý.
– Sau khi xả Sơn DPI xuống Máy thi công lại tiếp tục cho thêm 1, 2 hay nhiều bao Sơn DPI vào nồi nấu tùy theo nhu cầu sử dụng (1 nồi có thể nấu tối đa 8 bao Sơn DPI).

1.3- Kết thúc vận hành:

– Yêu cầu sử dụng hết Sơn trong nồi nấu.
– Tắt ga trước khi hết Sơn. Khóa các van ga, khóa van ga trên bình trước và khóa van ga dưới bếp sau để ga trong đường ống dẫn được sử dụng hết.
– Tắt hệ thống thủy lực.
– Tắt máy nổ.
– Đóng kín cửa xả Sơn.

1.4- Lưu ý khi vận hành:

– Khi đảo chiều cánh khuấy phải đưa cần điều khiển về chế độ tắt, cánh khuấy dừng hẳn mới tiến hành đảo chiều sang hướng ngược lại. (Khi đảo chiều cánh khuấy đột ngột, kể cả trong trường hợp chạy không tải có thể dẫn đến hỏng hệ thống lai thủy lực)
– Trường hợp trong nồi vẫn còn Sơn. Thì phải gia nhiệt cho nóng chảy Sơn trong nồi mới vận hành hệ thống cánh khuấy. (Không tuân thủ đúng điều này có thể làm gẫy cánh khuấy và hỏng hệ thống thủy lực)
– Trong khi thao tác với bình ga. Hết sức cẩn thận tránh rò rỉ ga.
– Giảm nhỏ lửa khi Sơn đã tới nhiệt độ thi công. Chú ý không để Sơn quá nhiệt.
– Hệ thống khuấy thủy lực phải được hoạt động liên tục từ khi Sơn DPI bắt đầu chẩy đến khi hết Sơn trong nồi hay đến lúc dừng thi công. (Nhằm tránh cho Sơn không bị cục bộ, cháy Sơn).
– Đi găng tay khi tiếp xúc với nồi nấu Sơn.
– Do làm ở nhiệt độ cao nên hết sức chú ý an toàn cháy nổ.

II – Máy thi công Sơn:

2.1- Chuẩn bị trước khi vận hành:

– Kiểm tra đóng kín các van ga, cửa xả Sơn.
– Lựa chọn Shoe trải phù hợp với vạch cần thi công.
– Lắp Shoe trải. Để Shoe Sơn bằng phẳng trên mặt đường trước khi xiết các ốc.
Chý ý:  điều chỉnh độ dầy mỏng của Sơn dưới đáy Shoe trải trước khi lắp vào máy.
– Nối van ga từ Shoe trải vào máy.
– Căn chỉnh khoảng cách từ Shoe trải đến miệng nhả Sơn cho phù hợp.
– Đặt Shoe trải thẳng trên bề mặt đường. Đảm bảo đường trải không bị vênh, kéo Shoe trải phải tạo thành 2 vạch rõ nét trên mặt đường.
– Điều chỉnh mũi tên chỉ hướng cho phù hợp.
– Lắp bộ rắc bi phù hợp với Shoe trải và đảm bảo khi rắc bi phải nằm hết trên vạch Sơn.

                                      

Lắp Shoe trải bằng phẳng trên mặt đường  
Điều chỉnh độ dày của sơn dưới đáy Shoe

                                           

Cân chỉnh khoảng cách từ Shoe đến miệng nhả sơn
Lắp bộ rác bi phù hợp với Shoe

 

2.2- Thao tác vận hành:

– Xả Sơn từ nồi nấu vào Máy thi công.
– Châm lửa nồi nấu-mở van ga nồi nấu để duy trì nhiệt độ thi công cho Sơn.
– Làm nóng Shoe trải Sơn.
– Đưa máy thi công vào vị trí cần Sơn đã được lấy dấu sẵn.
– Hạ Shoe Sơn xưống đường, mở Shoe và tiến hành kẻ vạch Sơn theo yêu cầu bản vẽ.
– Chú ý: Đóng mở cửa xả, Shoe Sơn hợp lý tránh làm trào Sơn hay vương Sơn ra đường.
– Điều chỉnh nhiệt độ thi công phù hợp.
+ Nhiệt độ cao quá —> làm hỏng mầu sắc Sơn, Sơn chảy loãng —> Sơn định hình kém.
+ Nhiệt độ thấp quá —> Sơn đặc, bám dính kém, bề mặt Sơn mất láng, bóng Sơn vén mép.

2.3- Kết thúc vận hành:

– Sử dụng hết Sơn trong Shoe trải và máy thi công trước khi kết thúc vận hành.
– Khóa van bình ga sau đó khóa các van ga.
– Tháo bình ga ra khỏi máy thi công.
– Để máy thi công nguội trước khi chuyển lên ô tô trở về. (Trường hợp phải di chuyển địa điểm thi công khác ở xa thì vận chuyển lên xe phải hết sức cẩn thận đảm  bảo an toàn cho người và đề phòng cháy nổ.)
– Vệ sinh sạch thiết bị thi công đặc biệt phải vệ sinh sạch sẽ shoe trải nhất là vị trí lưỡi đóng mở shoe.

2.4- Lưu ý khi vận hành:

– Đọc kỹ và ghi nhớ “Các sự cố và cách khắc phục trong thi công Sơn” để nắm vững và chủ động phòng tránh, phản ứng nhanh khi có sự cố xẩy ra.
– Khi nồi chứa gần hết Sơn phải tắt ga để tránh nổ cục bộ do nhiệt độ trong nồi lúc này dâng cao.
– Sử dụng các tấm tôn khi làm vạch đi bộ và các mũi tên để có các góc hình đẹp.
– Sơn là bộ mặt của con đường —> Đòi hỏi tính thẩm mĩ cao. Bạn hãy tập trung vào công việc để tạo nên những bộ mặt đẹp nhất.

III – Lấy dấu Sơn:

– Đọc kỹ bản vẽ trước khi tiến hành công việc.
– Xem, nắm vững tiêu chuẩn đường bộ về tín hiệu Sơn trên bề mặt đường.
– Tùy theo bản vẽ và thực tế thi công mà có quyết định thi công cho phù hợp.
* Với đường Sơn Tim và lề:
– Lấy tim đường làm chuẩn kẻ vạch tim trước rồi từ tim lấy dấu lề và kẻ vạch lề theo tim.
* Với Sơn đường cong:
– Khi vào đường cong, lấy tiếp đầu, tiếp cuối và điểm giữa làm chuẩn dùng ba điểm này để tạo đường cong.
* Với Sơn mũi tên:
– Vẽ mũi tên theo đúng kích thước và vị trí trong bản vẽ lên đường.
– Sử dụng các tấm tôn để tạo hình, tránh cho Sơn bị dây lên đường.

 

QUY ĐỊNH VỀ THI CÔNG SƠN TRÊN BỀ MẶT ĐƯỜNG

TIÊU CHUẨN

BS 3262: Phần 3: 1989

SƠN GIAO THÔNG NHIỆT DẺO PHẢN QUANG

1. Phạm vi: 

Tiêu chuẩn này quy định những yêu cầu đối với thi công sơn nhiệt dẻo trắng, vàng, đen bằng phương pháp đun nóng chảy và thi công nóng trên bề mặt đường bằng cách trải hoặc phun nhằm mục đích tạo những đường kẻ trên bề mặt tại trung tâm hoặc lề đường, dải cắt ngang dành cho người đi bộ.v.v . Tiêu chuẩn này không áp dụng đối với các vật liệu nhiệt dẻo bên trong bề mặt đường.

2. Định nghĩa: 

Mục đích phần này của tiêu chuẩn BS 3262 được định nghĩa tại BS 3262: Phần 1.

3. Chuẩn bị bề mặt: 

Vì sơn nhiệt dẻo được thi công nóng nên sẽ tạo liên kết tốt trên nền bêtông asphalt.

3.1. Nơi thi công:

Trên bề mặt bê tông hoặc asphalt phải được làm sạch bằng chổi quét hoặc bàn chải sắt. Các loại tạp chất như bụi bẩn, dầu mỡ và các hợp phần đóng rắn phải được loại bỏ trước khi thi công.

Đối với bề mặt đường là bêtông, asphalt cũ hoặc đã bị mài bóng cần sử dụng thêm một lớp sơn lót.

3.2. Tình trạng bề mặt đường:

Không thi công sơn trên bề mặt có cát, bùn hoặc các vật thể lạ, bề mặt bị suy giảm về độ kết dính, hoặc trên lớp sơn cũ bị nứt, bong tróc.

Nếu nhiệt độ bề mặt đường nhỏ hơn 10oC hoặc ẩm ướt thì cần phải sấy khô, nhiệt độ bề mặt trên 10oC mới thi công.

4. Chuẩn bị sơn tại nơi thi công:

Để tránh biến màu và phồng rộp do nhiệt độ thi công vượt quá quy định, nên từ từ cho sơn vào nồi nấu, từng bao một và phải được đun nóng trong một thiết bị khuấy liên tục để tránh quá nhiệt cục bộ.

Trong khi làm nóng chảy vật liệu cần kiểm soát nhiệt độ bằng một nhiệt kế với độ chính xác + 50C, để tránh vật liệu sơn bị quá nhiệt độ cho phép.

Khi đã nóng chảy, nhựa hydrocacbon chỉ sử dụng được trong vòng 6 giờ, nhựa alkyd sẽ chỉ trong 4 giờ. Vì vậy trong khoảng thời gian đó vật liệu không được đốt nóng vượt quá nhiệt độ quy định của nhà sản xuất. Sau thời gian đó sơn đã đun nóng phải được loại bỏ.

5. Thi công:

Có thể thi công sơn nhiệt dẻo bằng máy hoặc trải thủ công.

Sơn nhiệt dẻo sẽ được thi công trên mặt đường trong phạm vi nhiệt độ quy định của nhà sản xuất cho phương pháp thi công đã được chỉ định.

Bề mặt vạch trải trên mặt đường không được phồng rộp, bong tróc, vón cục hay bị các khuyết tật khác.

6. Tạo độ phản quang bề mặt:

Khi có yêu cầu thi công một lớp bi trên bề mặt, loại bi sử dụng sẽ phải đạt các yêu cầu B của tiêu chuẩn BS 6088. (Để nâng cao tầm nhìn của vạch trải trong đêm, cỡ hạt của bi của bi phản quang phải từ 180 – 850 mm, mặt khác nó phải đạt được các yêu cầu của tiêu chuẩn BS6088, có thể rắc bi trên toàn bộ hoặc một phần bề mặt vạch trải).

Bi phản quang sẽ rắc bằng máy với lượng 450 + 50g/m2  ngay sau khi sơn được trải trên bề mặt đường. Bi phản quang phải được bám chặt trên bề mặt do phun bằng máy với tốc độ thích hợp hoặc rơi tự do khi thi công bằng tay.

 7. Độ dày:

Vật liệu sơn được thi công với độ dày như sau:

7.1. Đối với sơn dùng nhựa tổng hợp:

(1)   Vạch trải: từ 2,0 – 5,0 mm.

(2)   Vạch phun ngoài màu vàng: không nhỏ hơn 1,5 mm.

(3)   Với các đường gờ phun màu vàng:  không nhỏ hơn 0,8 mm.

(4)   Với các vạch ép: không nhỏ hơn 2,5 mm, không lớn hơn 3,5 mm.

7.2. Đối với sơn dùng nhựa Alkyd:

(1) Vạch trải: từ 3,0 – 5,0 mm.

(2) Vạch phun ngoài màu vàng: không nhỏ hơn 2,0   mm.

(3)   Với các đường gờ phun màu vàng:  từ 2,0 – 3,0 mm.

(4)   Với các vạch ép: không nhỏ hơn 4,0 mm, không lớn hơn 5,0 mm.

8. Độ rộng:

Kích thước chiều rộng của vạch sẽ dao động cho phép + 10%, – 5%.

SỰ CỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤ TRONG THI CÔNG SƠN

Dưới đây là một số sự cố và cách khắc phục trong thi công sơn nhiệt dẻo phản quang .

(Để tham khảo)

SỰ CỐ MÔ TẢ NGUYÊN NHÂN KHẮC PHỤC LƯU Ý
Đường rãnh và các vết xước Các sọc hở, sâu, dài hoặc các vết xước trên bề mặt vạch sơn. Phần chảy ra của hộp trải bị tắc do các hạt khô rắn của sơn nhiệt dẻo và các hạt lạ khác. Kiểm tra sàng lọc.

Giải phóng các vật lạ như: hạt nhỏ,….

Không gia nhiệt quá quy định.

Làm sạch hoàn toàn bề mặt đường trước khi thi công.

Lỗ nhỏ Các lỗ nhỏ nằm trong vạch sơn nhiệt dẻo. Không khí trong các lỗ rỗng trên bề mặt đường thoát ra xuyên qua màng sơn nhiệt dẻo chưa khô. Giảm nhiệt độ của sơn nhiệt dẻo. Các lỗ nhỏ tạo ra do quá nhiệt có thể là nguyên nhân làm bong sơn.

Sự thoát ra của không khí trong các lỗ rỗng là không tránh khỏi.

Sự kiểm soát quá mức nhằm ngăn nhừa không khí thoát ra có thể gây ra những nhược điểm khác liên quan đến bề mặt sơn.

Hơi ẩm bay hơi và thoát ra từ bề mặt bêton ẩm. Thi công sơn nhiệt dẻo trên bêton đã khô hoàn toàn. Bêton phải khô rắn hoàn toàn.
Dung môi bay hơi từ sơn lót ướt.

Sự thoát ra và bay hơi của hơi ẩm dưới bề mặt đường.

Để sơn lót khô hoàn toàn trước khi thi công.

Để cho hơi ẩm khô hoàn toàn.

Không thi công sơn ngay sau khi mưa. Để cho mặt đường có thời gian khô hoàn toàn.
Sự loang nhựa Nhựa đường rỉ ra từ bề mặt đường lên mặt trên của vạch sơn nhiệt dẻo. Màng nhựa đường dẻo của asphalt nóng chảy, kết hợp với sơn nhiệt dẻo nóng chảy lên trên bề mặt của vạch. Không Thi công sơn 2 lần khi nhựa bị chảy loang quá nhiều.

Các vật lạ dính trên lốp xe của các phương tiện đi qua cũng làm bẩn bề mặt vạch trải.

Sơn lót quá ướt chảy ra ngoài xuyên qua sơn nhiệt dẻo. Không thi công quá nhiều sơn lót.

Thi công sơn nhiệt dẻo khi sơn lót đã khô hoàn toàn.

 
Nứt, rạn, gẫy Các vết nứt gẫy tới bề mặt đường. Các vết nứt trên bề mặt đường. Không. Chú ý sự xuất hiện của các vết nứt.
Sơn nhiệt dẻo khô quá cứng và không thể phù hợp với bề mặt đường asphalt mềm. Trao đổi với các nhà cung cấp sơn vạch đường nhiệt dẻo.  
Nứt theo chiều dài gờ vạch ở khoảng cách đều đặn. Bề mặt asphalt mới dễ xảy ra vấn đề này. Sơn nhiệt dẻo  không thể theo sự co dãn của mặt đường Không Mùa lạnh với sự thay đổi lớn về nhiệt độ giữa ban đêm và ban ngày góp phần làm tăng thêm vấn đề này
Độ dầy không đều gây nên tốc độ khô khác nhau của sơn nhiệt dẻo Điều kiện thi công ổn định Điều chỉnh khuôn trải của thiết bị thi công.
Các vết rạn li ti trên mặt màng. Bi phân tán không đều có thể là lý do của vấn đề này, đặc biệt dưới tình trạng luân chuyển giao thông thấp. Rắc bi đều Điều chỉnh nhiệt độ sơn nhiệt dẻo và sự phân tán của bi phản quang.
Rỗng:

-Rỗng  nhỏ

-Hố

Chỗ rỗng trên bề mặt vạch. Độ nhớt của sơn nhiệt dẻo không hợp lí gây nên độ lắng không đều. Thiết bị thi công phải được gia nhiệt đầy đủ trước khi dùng.

Sơn nhiệt dẻo phải được gia nhiệt trước ở nhiệt độ 200-2200C.

Điều chỉnh hộp trải mở phù hợp với độ nhớt.
Rạn gẫy trên vạch sơn Vấn đề này có thể phát sinh trên bề mặt đường không đều đặn. Tốc độ thi công quá cao. Làm chậm tốc độ thi công. Cẩn thận điều chỉnh sự phân tán lượng bi với tốc độ của máy.
Sự không đều đặn trên bề mặt của vạch Sự gồ gề không đều đặn trên mặt cắt ngang.(không láng). Sơn nhiệt dẻo lắng kém. Tăng nhiệt độ sơn nhiệt dẻo.

Giữ máy thi công ở nhiệt độ phù hợp.

Điều chỉnh góc của khuôn thi công.
Dấu sọc

Dấu chổi

Không đều theo phương ngang. Máy thi công chuyển động lên xuống trên bề mặt đường gồ ghề. Không.  
Độ phản quang kém trong đêm Độ phản quang kém và không đều. Bi phân tán không đều và bi rắc không đầy đủ. Điều chỉnh tỉ lệ của chất phân tán bi. Điều chỉnh máy rắc bi và phải làm khô bi, tránh để bi ẩm.
Độ phản quang kém trên từng vùng cụ thể. Màng sơn cũ còn lại không đều và bi phản quang bám dính kém  trên các vùng sơn chồng lên lớp sơn cũ. Không Trong chừng mực nào đó thì không thể tránh được.
Bong tróc   1. Bề mặt bêton và asphalt cũ không xử lý sơn lót.2. Bề mặt đường không được làm sạch phù hợp.3. Hơi ẩm, dầu, mỡ còn lại trên bề mặt đường.4. Bề mặt đường kém và nhiệt độ xung quanh.    
Thay đổi màu sắc Trắng-trắng bẩn.

Vàng-xanh tối.

Quá nhiệt trong thời gian gia nhiệt trước của sơn nhiệt dẻo.

Trộn lẫn vật liệu cũ và mới.

Điều chỉnh nhiệt độ nóng chảy.

Không đun nóng chảy sơn nhiệt dẻo trong thùng trộn quá lâu.

Làm sạch thùng chứa của máy gia nhiệt khi sự thay đổi màu sắc xảy ra.